[Hé Lộ] 6+ Tác dụng trị bệnh của cây Huyết giác ít người biết

Cây Huyết Giác là một trong những cây thảo dược chữa được nhiều bệnh khác nhau như đau nhức do vết thương, bong gân, cầm máu, bổ máu… Hiện nay có rất nhiều gia đình trồng cây Huyết giác trong nhà làm cảnh, để cải tạo không khí cho môi trường sống.

Cùng khám phá những công dụng trị bệnh của cây huyết giác, cũng như nhận biết chính xác cây Huyết giác chữa bệnh, tránh nhầm lẫn với cây dứa dại, dứa núi.

Cây Huyết Giác và Đặc điểm cây huyết giác

  • Tên khoa học: Pleomele cochinchinensis Merr. (Dracaena loureiri Gagnep)
  • Họ: Hành (Alliaceae)
  • Tên gọi khác: Dứa dại, Huyết giáng ông (Nam Dược Thần Hiệu), Xó nhà (Trung), Trầm dứa, Cau rừng (Dược Liệu Việt Nam), Giác máu (Lĩnh Nam Bản Thảo), Huyết giác Nam Bộ, Ỏi càng (Tày), Bồng bồng, Co ỏi khang (Thái), Dragonnier de Loureiro (Pháp), Dragon tree (Anh).

Huyết giác là loại cây nhỏ, chiều cao trưởng thành 1-3m, có cây sống lâu năm cao tới 10m. Thân phân nhiều nhánh tạo thành khối rộng. Cây trưởng thành có thân đường kính 20-30cm, cây nhỏ thân đường kính 1,6-2cm. Các cây về già thân hóa gỗ rỗng, màu đỏ.

 Lá cứng, xanh tươi, hình lưỡi kiếm dài 25-80cm, rộng 3-4cm (có khi tới 6-7cm), mọc cách, không cuống. Khi rụng để lại trên cây 1 sẹo. Thường chỉ có 1 bó lá tụ tập trên ngọn.

Hoa mọc theo chùm lớn, cả chùm có thể dài tới 1m, đường kính cuống chùm 1,5-2cm, trên có lá nhỏ dài 15cm, rộng 2cm; chùm hoa phân thành nhiều cành nhỏ dài tới 30cm. Hoa màu lục hoặc vàng nhạt, mọc theo nhóm 2-4 hoa gần nhau, mỗi bông đường kính 7-8mm.

Quả mọng, hình cầu, đường kính 0,6-1cm. Khi chín chuyển màu đỏ, mỗi quả chứa 3 hạt hình cầu, đường kính hạt 6-7mm.

Phân bố và thu hái cây huyết giác

Huyết giác ưa sống ở nơi có ánh sáng, thường mọc hoang, chủ yếu ở rừng núi đá vôi ẩm. Phân bố chủ yếu ở Việt Nam, Campuchia và Nam Trung Quốc (Quảng Tây).

Ở nước ta, mọc hoang trên núi đá xanh các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Hòa Bình, Hà Tây, Nam Định, Quảng Ninh. Núi đất không có huyết giác.

Bộ phận dùng chế biến thuốc là phần thân gỗ màu đỏ (ở cây già). Mang về chặt nhỏ, phơi khô, rồi bảo quản dùng dần hoặc bán sang Trung Quốc.

Chỉ những cây già, đổ nát và đã chết mới hóa gỗ. Những cây thành huyết giác có màu đỏ, xuất hiện nhiều đám màu đỏ, cứng chắc, vị hơi chát.

Trong các chỗ màu đỏ, cảm giác như bị một loại sâu đục khoét gây ra. Cho tới nay, vẫn chưa tìm được nguyên nhân gây huyết giác là sâu hay nấm, và thời gian từ cây chết đến huyết giác là bao lâu.

Thành phần hóa học cây huyết giác

Trong nhựa chiết từ gỗ cây huyết giác chứa nhựa không tan 3%; Dracoalben 2,5%; Dracoresen 14%, Dracoresinotanol và C6H5-CO-CH2-COOC8H9O chiếm 57-82%, Phlobaphen 0,03%, tro 8,3% và tạp thực vật 10,4%.

Tác dụng của huyết giác

Trong Đông y, cây huyết giác có tính bình, vị đắng chát, vào 2 kinh là Can và Thận.

Có công dụng hoạt huyết, chỉ huyết, sinh cơ hành khí. Được dùng để trị mụn nhọt, u hạch, máu tụ sưng bầm do bị thương, đòn ngã tổn thương, tê môi, bế kinh đau nhức xương và đơn sưng.

Dùng uống: Cho phụ nữ sau sinh nở bị huyết hôi ứ trệ, bế kinh, người trấn thương máu tụ sưng đau. Bằng cách ngâm rượu hoặc lấy 8-12g sắc uống.

Dùng ngoài: Để bó gãy xương, vết thương chảy máu, mụn nhọt lâu ngày không liền. Bằng cách ngâm rượu xoa.

Khả năng chống đông máu: Y học hiện đại nghiên cứu dịch chiết từ cây huyết giác có tác dụng ngăn ngừa hình thành khối huyết.

Người ta tiến hành nghiên cứu trong ống nghiệm và thấy huyết giác có khả năng ức chế kết tập tiểu cầu, từ đó kết luận về công dụng chống đông máu của huyết giác.

Khả năng kháng khuẩn: Dịch chiết từ cây huyết giác có thể ức chế sự phát triển của Staphylococcusaureus. Do vậy, huyết giác có công dụng kháng khuẩn khá tốt, ngoài ra còn kháng được nhiều loại nấm gây bệnh.

Cách bài thuốc chữa bệnh từ cây huyết giác

Huyết giác khi kết hợp với các vị thuốc khác mang lại hiệu quả rất cao, có khả năng giảm đau, hoạt huyết, chỉ huyết, làm giãn mao mạch, lưu thông máu… rất tốt cho người bị thoái hóa khớp.

Cùng tham khảo một số bài thuốc sau:

1. Thuốc bổ máu

Bài thuốc: 100g huyết giác, 100g hà thủ ô, 100g hoài sơn, 100g đậu đen sao cháy, 100g quả tơ hồng, 30g vừng đen, 20g ngải cứu và 20g gạo nếp rang.

Cách dùng: Tất cả các vị tán bột, trộn nhảo với mật, nặn thành viên, dùng 10-20g mỗi ngày.

2. Chữa chảy máu cam

Lấy nhựa huyết giác và bạc hà lượng bằng nhau, tán bột, thổi vào mũi giúp ngưng chảy máu cam.

3. Trị đau nhức vết thương do ngã, đòn roi, tụ máu

Bài thuốc: 20g huyết giác, 20g thiên niên kiện, 20g quế chi, 20g địa liền, 20g đai hồi và 20g gỗ vang.

Cách dùng: Tất cả các vị tán nhỏ, ngâm 1 tuần với 500ml rượu 30o, vắt kiệt lấy nước, bỏ bã. Khi bị thương gây đau nhức, tụ máu dùng bông tẩm rượu huyết giác để xoa bóp.

Ngày xưa, các cụ vẫn thường ngâm rượu huyết giác tỷ lệ 2/10 để xoa bóp mỗi khi lao động nặng, hoặc đi đường xa sưng chân, trị vết thương tụ máu vừa xoa và uống.

4. Chảy máu do vết thương hở

Dùng nhựa hoặc bột huyết giác bôi lên vết thương có tác dụng cầm máu tức thì.

5. Chữa đau nhói tim, căng tức ngực, đau ê ẩm vai, sống lưng bị thật do mang vác nặng, chạy hoặc leo trèo quá đà

Bài thuốc: 12g huyết giác, 12g ngưu tất, 12g đương quy, 12g sinh địa và 12g mạch môn.

Cách dùng: Tất cả các vị sắc uống. Trường hợp bị thêm sốt thì bổ sung 12g thiên môn, 12g dành dành, 12g huyền sâm và 12g địa cốt bì.

6. Thông huyết ứ, giảm đau do bong gân

Bài thuốc: 20g huyết giác, 20g đại hồi, 20g quế chi, 20g thiên niên kiện và 20g địa liền.

Cách dùng: Tất cả các vị tán nhỏ, ngâm 1 tuần với 500ml rượu trắng. Khi bị bong gân, lấy ra 1 chén, dùng bông thấm xoa lên chỗ đau, liên tục 15 phút và 3 lần mỗi ngày.

Ai không nên dùng cây huyết giác

Huyết giác là vị thuốc cầm máu, giúp lưu thông huyết ứ, vì vậy phụ nữ mang thai tuyệt đối không dùng. Sẽ gây ảnh hưởng tới sức khỏe cả mẹ và bé.

Phân biệt cây huyết giác với cây dứa núi

Do cùng tên gọi khác là dứa dại, mà đặc điểm thân và lá khá giống nhau nên mọi người thường nhầm lẫn cây huyết giác với cây dứa dại. Tuy nhiên, màu sắc của lá huyết giác tươi xanh hơn, trong khi quả cây dứa dại rất to, to hơn cả quả dứa gai ta vẫn thường ăn.

Cây dứa dại hay còn gọi dứa núi, dứa lẵng la có tên khoa học là Pandanus utilis, thuộc họa dứa dại (Pandanaceae). Còn cây huyết giác cũng gọi là dứa dại nhưng mọc nhiều ở Ngũ Hành Sơn, tên khoa học Dracaena Cambbodiana, thuộc chi Huyết dụ (Dracaenaceae) và họ hành tỏi.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *